Loading...
Skip to content
Tài liệu cơ bản về Tài chính và Bảo hiểm rủi ro thiên tai
21/02/2017 09:05:00Font size:A-A+Tương phản:GiảmTăng

I. Sáng kiến Tài chính và Bảo hiểm cho rủi ro thiên tai

Sáng kiến tài chính cho rủi ro thiên tai (DRFI) được xây dựng trên cơ sở dự báo và lập kế hoạch tài chính nhằm ứng phó với hậu quả của các thảm họa thiên tai, qua đó hỗ trợ chính quyền, cả ở cấp quốc gia và cấp địa phương ứng phó tốt hơn và kịp thời hơn cho công tác cứu trợ, phục hồi và nỗ lực tái thiết sau thiên tai. Các công cụ DRFI tiềm năng bao gồm nguồn dự phòng ngân sách hàng năm, bảo hiểm, tái phân bổ ngân sách sau thiên tai, và vay nợ hỗ trợ khẩn cấp sau thiên tai. Sáng kiến DRFI cũng hỗ trợ phát triển thị trường bảo hiểm rủi ro thiên tai thông qua hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, giám sát thị trường bảo hiểm (xây dựng cơ sở dữ liệu chuẩn hóa về đơn bảo hiểm và tổn thất phát sinh). Sáng kiến DRFI cũng hỗ trợ xây dựng giải pháp tài chính và Bảo hiểm rủi ro thiên tai ở cấp độ địa phương (đánh giá rủi ro tài khóa địa phương, xây dựng khuôn khổ tài chính rủi ro thiên tai...).

Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có nguy cơ cao nhất về thiên tai, thảm họa. Thiệt hại về vật chất của khu vực này chiếm đến 45% tổng thiệt hại kinh tế toàn cầu. Để ứng phó với thiên tai, Chính phủ các nước phải bỏ ra một khoản ngân sách không nhỏ, tuy nhiên, khoản ngân sách này được đánh giá mới chỉ bù đắp được trung bình khoảng 30% các thiệt hại kinh tế do thiên tai gây ra. Do đó việc nghiên cứu và triển khai các giải pháp tài chính và bảo hiểm rủi ro (DFRI) là vô cùng cần thiết, để chuyển giao rủi ro, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

II. Chính sách tài chính và bảo hiểm rủi ro thiên tai của Việt Nam

Hiện tại, Việt Nam có 4 nhóm chính sách tài chính và bảo hiểm rủi ro thiên tai, bao gồm: (i) Nhóm chính sách liên quan đến thu NSNN; (ii) Nhóm chính sách liên quan đến chi NSNN; (iii) Nhóm chính sách liên quan đến bảo hiểm rủi ro thiên tai; (iv) Nhóm các chính sách chi từ các quỹ ngoài NSNN (Quỹ phòng chống thiên tai, Quỹ bảo vệ môi trường, Quỹ bảo trì đường bộ).

1. Nhóm chính sách liên quan đến thu ngân sách nhà nước:

Các chính sách thu ngân sách đối với rủi ro thiên tai mang tính chất khắc phục hậu quả sau thiên tai thông qua việc miễn, giảm các khoản thuế, phí, lệ phí nhằm giảm bớt chi phí đối với các tổ chức, cá nhân phải gánh chịu hậu quả của thiên tai, tạo điều kiện để họ có thể khôi phục sản xuất, đời sống. Cụ thể:

- Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Luật thuế TNDN cho phép tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế đối với phần giá trị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh và trường hợp bất khả kháng khác không được bồi thường; khoản tài trợ để khắc phục hậu quả thiên tai.

- Về thuế thu nhập cá nhân (TNCN): Luật thuế TNCN quy định đối tượng nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế được xét giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế phải nộp.

- Về thuế sử dụng đất nông nghiệp: Theo Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, trong trường hợp thiên tai, thuế sử dụng đất nông nghiệp được giảm hoặc miễn cho từng hộ nộp thuế theo từng vụ sản xuất tương ứng với mức độ thiệt hại, cụ thể: giảm thuế tương ứng theo mức thiệt hại nếu thiệt hại từ 10% đến dưới 20%; giảm thuế 60% nếu thiệt hại từ 20% đến dưới 30%; giảm thuế 80% nếu thiệt hại từ 30% đến dưới 40%; miễn thuế 100% nếu thiệt hại từ 40% trở lên.

- Về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: Người nộp thuế gặp khó khăn do sự kiện bất khả kháng được miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp nếu giá trị thiệt hại về đất và nhà trên đất trên 50% giá tính thuế, được giảm 50% số thuế phải nộp nếu giá trị thiệt hại về đất và nhà trên đất từ 20% đến 50% giá tính thuế.

- Về thuế tài nguyên: Người nộp thuế tài nguyên gặp thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ gây tổn thất đến tài nguyên đã kê khai, nộp thuế thì được xét miễn, giảm thuế phải nộp cho số tài nguyên bị tổn thất; trường hợp đã nộp thuế thì được hoàn trả số thuế đã nộp hoặc trừ vào số thuế tài nguyên phải nộp của kỳ sau.

- Về thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB): Luật thuế TTĐB quy định người nộp thuế sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB gặp khó khăn do thiên tai được giảm thuế. Mức giảm thuế được xác định trên cơ sở tổn thất thực tế do thiên tai gây ra nhưng không quá 30% số thuế phải nộp của năm xảy ra thiệt hại và không vượt quá giá trị tài sản bị thiệt hại sau khi được bồi thường (nếu có).

- Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định việc miễn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để khắc phục hậu quả thiên tai.

Ngoài ra, một số chính sách miễn, giảm cũng được áp dụng đối với một số khoản phí, lệ phí khác nhằm hỗ trợ việc phòng chống và khắc phục hậu quả của thiên tai như: Miễn giảm tiền sử dụng đất cho Hộ di dân ở vùng thiên tai theo Quyết định số 1776/QĐ-TTg ngày 21/11/2012; Miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước trong trường hợp thiên tai theo Nghị định 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; Chính sách miễn giảm thủy lợi phí…

2. Nhóm chính sách liên quan đến chi ngân sách nhà nước:

 

- Chi ngân sách cho công tác phòng, chống thiên tai:

Bao gồm dự toán chi hàng năm cho công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phòng, chống thiên tai; đầu tư, xây dựng, tu bổ, nâng cấp các công trình phòng, chống thiên tai; hoạt động phòng, chống thiên tai; hoạt động thường xuyên của cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống thiên tai các cấp. Ngoài ra, còn có chính sách chi phòng, chống thiên tai cho một nhóm đối tượng hoặc một khu vực cụ thể dễ bị tổn thương bởi thiên tai: (i) Chương trình Bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2013-2015 và định hướng đến 2020; (ii) Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long; (iii) Chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng tránh bão, lụt khu vực miền Trung.

- Chi ngân sách cho công tác khắc phục hậu quả của thiên tai

Chính sách chi từ nguồn dự trữ quốc gia: Dự trữ quốc gia bao gồm vật tư, thiết bị, hàng hóa được dự trữ nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh. Nguồn kinh phí cho dự trữ quốc gia được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm và đóng góp của các tổ chức, cá nhân.

Chính sách trợ cấp đột xuất để khắc phục hậu quả của thiên tai: Hỗ trợ gạo cho hộ gia đình bị thiếu đói; hỗ trợ bằng tiền đối với người bị thương nặng; hỗ trợ chi phí mai táng đối với hộ gia đình có người chết, mất tích do thiên tai; hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa nhà ở; hỗ trợ khẩn cấp cho trẻ em khi cha, mẹ bị chết, mất tích do thiên tai và người nhận chăm sóc trẻ em…

Chương trình Bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2013-2015 và định hướng đến năm 2020: Hộ gia đình bị mất nhà ở, đất ở, đất sản xuất do sạt lở đất, lũ quét, lũ ống, sụt lún đất, lốc xoáy được hỗ trợ về di chuyển, nhà ở, lương thực và các hỗ trợ khác; hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu; phát triển dịch vụ sản xuất tạo điều kiện ổn định đời sống, phát triển bền vững cộng đồng dân cư.

Chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai: Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt hoặc giống cây, con cho nông dân, ngư dân, chủ trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại do thiên tai.

- Hỗ trợ kinh phí từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương (NSTW) cho các địa phương để khắc phục hậu quả thiên tai

Về hỗ trợ dân sinh, khôi phục cơ sở hạ tầng: Chỉ hỗ trợ từ nguồn dự phòng NSTW đối với những địa phương có mức thiệt hại lớn vượt quá khả năng cân đối ngân sách địa phương (NSĐP) (các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, các địa phương có điều tiết các khoản thu phân chia về NSTW dưới 50%). Các địa phương còn lại NSĐP tự đảm bảo kinh phí.

Về hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản để khôi phục sản xuất: Nguồn kinh phí bao gồm: dự phòng NSTW, dự phòng NSĐP, nguồn dự trữ quốc gia, nguồn tài trợ khác. NSTW hỗ trợ 80% kinh phí bị thiệt hại do thiên tai đối với các tỉnh miền núi, Tây Nguyên, 70% kinh phí bị thiệt hại đối với các tỉnh còn lại (trừ Tp. Hà Nội và Tp. HCM tự đảm bảo hoàn toàn từ dự phòng NSĐP).

Về hỗ trợ thiệt hại do nắng nóng, hạn hán: NSTW hỗ trợ đối với đơn vị quản lý, khải thác công trình thủy lợi do trung ương quản lý, NSĐP hỗ trợ đối với đơn vị do địa phương quản lý. Trường hợp NSĐP sau khi bố trí lại ngân sách, sử dụng dự phòng, quỹ dự trữ tài chính vẫn không đủ thì UBND cấp tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc bổ sung từ NSTW.

3. Nhóm các chính sách chi từ quỹ ngoài ngân sách

Hiện nay có 03 quỹ ngoài ngân sách có các hoạt động liên quan đến công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả của thiên tai (Quỹ phòng, chống thiên tai; Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam và Quỹ bảo trì đường bộ). Cụ thể:

a) Quỹ phòng, chống thiên tai

Quỹ phòng, chống thiên tai được thành lập theo quy định của Luật phòng, chống thiên tai và Nghị định số 94/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 (có hiệu lực thi hành từ 08/12/2014), thay thế quỹ phòng, chống bão lụt của địa phương được thành lập theo Nghị định số 50/CP ngày 10/5/1997.

- Địa vị pháp lý của Quỹ: Quỹ được thành lập ở cấp tỉnh, do UBND cấp tỉnh quản lý.

- Nguồn hình thành Quỹ: Đóng góp bắt buộc của các tổ chức kinh tế hạch toán độc lập , công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi đến hết tuổi lao động , đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân.

- Nội dung chi của Quỹ: Cứu trợ, hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai ; hỗ trợ các hoạt động ứng phó thiên tai ; hỗ trợ các hoạt động phòng ngừa thiên tai …

b) Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam

Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam được thành lập từ năm 2002 theo Quyết định số 82/2002/QĐ-TTg ngày 26/6/2002, sau đó được thay thế bởi các quyết định số 35/2008/QĐ-TTg ngày 03/03/2008, 02/2014/QĐ-TTg ngày 13/01/2014 và 78/2014/QĐ-TTg ngày 26/12/2014.

- Địa vị pháp lý của Quỹ: Là quỹ quốc gia, là tổ chức tài chính nhà nước trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường; có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, con dấu và bảng cân đối kế toán riêng.

- Chức năng của Quỹ: Cho vay lãi suất ưu đãi, tài trợ, hỗ trợ lãi suất cho các chương trình, dự án, các hoạt động, nhiệm vụ bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu không nằm trong kế hoạch ngân sách trên phạm vi toàn quốc.

- Các nhiệm vụ của Quỹ liên quan đến công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả của thiên tai: Hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; cho vay vốn với lãi suất ưu đãi đối với các dự án bảo vệ môi trường; hỗ trợ lãi suất vay vốn cho các dự án bảo vệ môi trường vay vốn từ các tổ chức tín dụng; tài trợ, đồng tài trợ cho các hoạt động bảo vệ môi trường; hỗ trợ tài chính đối với các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu…

- Nguồn vốn của Quỹ: Vốn điều lệ do NSNN cấp ; vốn bổ sung hàng năm từ các nguồn theo quy định.

c) Quỹ bảo trì đường bộ

Quỹ bảo trì đường bộ được thành lập theo Luật Giao thông đường bộ và Nghị định số 18/2012/NĐ-CP ngày 13/3/2012.

- Địa vị pháp lý của Quỹ: Quỹ bảo trì đường bộ là quỹ của Nhà nước, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, được thành lập ở cả trung ương và địa phương.

- Nguồn hình thành Quỹ: Phí sử dụng đường bộ được thu hàng năm trên đầu phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (được phân chia cho Quỹ trung ương 65%, Quỹ địa phương 35%), NSNN cấp bổ sung hàng năm cho Quỹ, các nguồn thu liên quan đến sử dụng đường bộ và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.

- Nội dung chi của Quỹ: Chi bảo trì công trình đường bộ; chi cho các nhiệm vụ quản lý công trình đường bộ …

4. Chính sách bảo hiểm cho rủi ro thiên tai

Trên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay chưa có các sản phẩm bảo hiểm rủi ro thiên tai riêng biệt. Rủi ro thiên tai được các doanh nghiệp bảo hiểm triển khai phổ biến như là một nội dung rủi ro mở rộng trong các Đơn nghiệp vụ bảo hiểm tài sản (bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt, bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp, bảo hiểm mọi rủi ro tài sản…), Đơn bảo hiểm con người hoặc bảo hiểm nông nghiệp (cây trồng, vật nuôi). Thực tế cho thấy, với trên 800 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ thuộc cả 3 đối tượng là bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm và bảo hiểm con người mà các doanh nghiệp bảo hiểm đang triển khai đều có mở rộng phạm vi bảo hiểm đối với các rủi ro thiên tai.

Các rủi ro thiên tai được bảo hiểm trong một số nghiệp vụ

Nghiệp vụ bảo hiểm

Đối tượng được bảo hiểm

Rủi ro thiên tai

được bảo hiểm

1. Nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ

  

- Bảo hiểm hỗn hợp có thời hạn 5 năm và 10 năm;

- Bảo hiểm an sinh giáo dục;

- Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn;

- Bảo hiểm nhân thọ và tiết kiệm.

Con người

Bão, lũ lụt, động đất,

núi lửa, sét đánh

2. Nghiệp vụ bảo hiểm con người

  

- Bảo hiểm tai nạn hành khách;

- Bảo hiểm tai nạn lao động;

- Bảo hiểm khách du lịch;

- Bảo hiểm tai nạn thuyền viên;

- Bảo hiểm tai nạn học sinh, sinh viên;

- Bảo hiểm tai nạn con người;

- Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe;

- Bảo hiểm sinh mạng.

Con người

Tất cả các rủi ro thiên tai trừ rủi ro động đất,

núi lửa

3. Nghiệp vụ bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại

  

- Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;

- Bảo hiểm dầu khí.

Tài sản

Bão, động đất, núi lửa,

lũ lụt, sét đánh

4. Nghiệp vụ bảo hiểm vận chuyển đường bộ,

đường biển, đường sông, đường sắt, đường không

  

- Bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu;

- Bảo hiểm hàng hóa xuất khẩu;

- Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa .

Tài sản

Động đất, núi lửa, bão,

lũ lụt, sét đánh

5. Nghiệp vụ bảo hiểm thân tầu và trách nhiệm dân sự chủ tầu:

  

- Bảo hiểm thân tầu biển, tầu pha sông biển;

- Bảo hiểm vật chất tầu sông, tầu cá;

Tài sản

Bão, lũ lụt, động đất, núi lửa, sóng thần, sương mù

6. Nghiệp vụ bảo hiểm hàng không

  

Bảo hiểm thân máy bay;

Tài sản

Bão, sét đánh, sương mù

7. Nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới

  

Bảo hiểm vật chất xe;

Tài sản

Bão, lũ lụt, sét đánh, động đất, mưa đá.

8. Nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại kinh doanh

  

Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh.

Lợi ích tính bằng tiền

Bão, lũ lụt, sét đánh, động đất, mưa đá

9. Nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp:

  

Bảo hiểm vật nuôi, cây trồng.

Vật nuôi cây trồng

Bão, lũ lụt, úng, hạn hán, sâu bệnh, giá rét

(Nguồn: Bộ Tài chính)

Chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ (thực hiện trong năm 2011-2013) được coi là một trong số các công cụ, biện pháp hạn chế thiệt hại của ngân sách Nhà nước thông qua việc chuyển dịch một phần nghĩa vụ hỗ trợ thiệt hại cho các doanh nghiệp bảo hiểm, trong đó có rủi ro thiên tai (bão, lũ, lụt, hạn hán, rét đậm, rét hại, sương giá, xâm nhập mặn, sóng thần, giông, lốc xoáy).1 Tuy nhiên, chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện với quy mô hạn chế tại 20 tỉnh, thành phố (bao gồm 65 huyện và 748 xã) và đang được tiếp tục đánh giá, bổ sung, điều chỉnh, sửa đổi trước khi có thể trở thành một cơ chế lâu dài, ổn định và triển khai áp dụng một cách rộng rãi2.

Những khó khăn trên cho thấy sự cần thiết của việc phát triển sản phẩm bảo hiểm thiên tai trong dài hạn, nhằm chuyển đổi từ cơ chế tài chính thụ động (tài trợ sau khi thiên tai xảy ra) sang cơ chế tài chính chủ động (tài trợ trước khi xảy ra thiên tai). Tuy nhiên, đánh giá chung cho thấy, khả năng áp dụng bảo hiểm thiên tai tại Việt Nam cũng phải đối mặt với một số khó khăn sau: (i) Mức độ thâm nhập còn thấp, thường chỉ có tài sản thương mại của các tổ chức, doanh nghiệp lớn tham gia bảo hiểm tài sản; (ii) Chưa có quy định giám sát thận trọng về bảo hiểm thiên tai; (iii) Phí bảo hiểm thiên tai chưa được tính toán đầy đủ.

5. Đánh giá chính sách tài chính và bảo hiểm rủi ro thiên tai ở Việt Nam và Kiến nghị

a. Những kết quả đạt được

* Về công tác xây dựng chính sách:

Một là, chính sách tài chính nhằm phòng, chống, khắc phục rủi ro thiên tai đã được ban hành tương đối đầy đủ, bao gồm cả các chính sách liên quan đến thu và chi ngân sách, đồng thời đáp ứng được việc hỗ trợ quản lý rủi ro thiên tai ở tất cả các khâu: từ khâu phòng, chống thiên tai đến khâu khắc phục những hậu quả do thiên tai gây ra.

Hai là, các chính sách được lồng ghép trong nhiều lĩnh vực khác nhau (thuế, hải quan, dự trữ, bảo trợ xã hội, nông nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi, xây dựng, giao thông, môi trường…) nên bao quát tương đối đầy đủ, toàn diện các nhu cầu cần được hỗ trợ đối với các tổ chức, cá nhân, các khu vực dễ bị tổn thương bởi thiên tai, từ đó góp phần giảm thiểu rủi ro thiên tai và hậu quả của thiên tai.

* Về việc thực hiện chính sách:

Các chính sách tài chính nhằm phòng, chống, khắc phục rủi ro thiên tai được thực hiện kịp thời, đảm bảo đúng chế độ, chính sách, cụ thể:

Một là, thực hiện miễn giảm các loại thuế, phí, lệ phí, các khoản thu vào NSNN đối với người nộp thuế bị ảnh hưởng bởi thiên tai theo quy định.

Hai là, Bố trí ngân sách chi đầu tư và chi thường xuyên hàng năm cho các chương trình, dự án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai3; kinh phí đầu tư, duy tu, bảo dưỡng cho hệ thống cơ sở hạ tầng phòng, tránh thiên tai; kinh phí đảm bảo hoạt động của hệ thống các cơ quan chịu trách nhiệm phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai các cấp; kinh phí di dời dân cư ở vùng bị thiên tai; kinh phí trợ cấp, hỗ trợ cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi thiên tai…

Ba là, sử dụng kịp thời các khoản dự phòng, dự trữ cho công tác phòng, chống, khắc phục rủi ro thiên tai:

+ Giai đoạn 2011-2015, bên cạnh nguồn kinh phí dự phòng của các địa phương, tổng số hỗ trợ từ nguồn dự phòng NSTW cho công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh là 11.239 tỷ đồng (chiếm khoảng 20% tổng nguồn dự phòng NSTW) cho các nhiệm vụ: đầu tư sửa chữa, nâng cấp các dự án, công trình đê kè chống sạt lở và các dự án quan trọng cấp bách nhằm phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ, mưa đá, lốc xoáy, bão; di dân khẩn cấp ra khỏi vùng sạt lở đất, lũ ống, lũ quét; xử lý sạt lở; hỗ trợ người nghèo nâng cao điều kiện an toàn chỗ ở, ứng phó với lũ, lụt vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung.. Ngoài ra, nguồn dự phòng NSTW cũng được sử dụng để xử lý các nhiệm vụ đột xuất, cấp bách phát sinh ngoài dự toán cho các bộ, ngành, địa phương như: bổ sung cho các bộ, ngành mua bù hàng dự trữ quốc gia đã xuất cấp (1.800 tỷ đồng); xử lý, khắc phục điểm sạt lở; hỗ trợ các địa phương đầu tư xây dựng công trình kè sạt lở, xử lý khẩn cấp sạt lở, diễn tập ứng phó sóng thần và tìm kiếm cứu nạn4...

+ Sử dụng kịp thời nguồn dự trữ quốc gia cho công tác khắc phục hậu quả sau thiên tai: xuất cấp lương thực, thuốc men, giống cây trồng... cho các địa phương bị thiệt hại. Giai đoạn 2011-2015, tổng giá trị hàng đã xuất cấp để cứu trợ, hỗ trợ cho nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, thuốc thú y, giống cây trồng... là trên 4.000 tỷ đồng5, trong đó bao gồm trên 47.000 tấn gạo cho các địa phương để cứu đói cho người dân vùng bị thiên tai.

b. Một số khó khăn, hạn chế:

- Một là, do Việt Nam chưa có một chiến lược/mô hình quản trị rủi ro thiên tai nên các chính sách tài khóa nhằm ứng phó với rủi ro thiên tai được ban hành nhiều nhưng chưa mang tính hệ thống, logic, bổ trợ cho nhau để nâng cao hiệu quả phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai. Trong khi đó, một số chính sách được ban hành nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện6.

- Hai là, mặc dù chính sách hiện hành vẫn đảm bảo thực hiện cho các nhiệm vụ chi cho khắc phục thiên tai, nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước mới chỉ đáp ứng được một phần tổng thiệt hại hàng năm. Ngân sách mới chỉ đảm bảo được các chính sách cứu trợ khẩn cấp sau thiên tai và các chính sách khắc phục thiên tai, ổn định cuộc sống và sản xuất kinh doanh, đồng thời các nguồn tài chính (dự phòng, dự trữ tài chính) còn phải đảm đương các nhiệm vụ cấp bách và ngoài kế hoạch khác, như chi cho an ninh, quốc phòng, đảm bảo an ninh, xã hội… Do đó, tính bền vững, ổn định của các giải pháp này cũng là vấn đề cần quan tâm.

- Ba là, ngân sách dành cho đầu tư phát triển sau thiên tai, thảm họa (ngân sách dành cho công tác tái thiết) vẫn còn thiếu thốn. Chi phí tái thiết thiệt hại thực hiện thông qua quá trình xây dựng dự toán, lên kế hoạch trong các năm tài chính tiếp theo, đòi hỏi phải có thời gian (có thể phải giải ngân trong thời gian vài năm), điều chỉnh kế hoạch chi cho đầu tư phát triển và nhiều khả năng không đảm bảo tái thiết đầy đủ. Trong điều kiện thiên tai xảy ra với tần suất và mức độ ngày càng lớn và trên diện rộng, ngân sách Nhà nước sẽ gặp khó khăn khi xảy ra các thiên tai lớn (50-100 năm một lần) cả về hỗ trợ khẩn cấp và tái đầu tư phục hồi cơ sở hạ tầng…

- Bốn là, ngân sách dành cho công tác cứu trợ sau thiên tai chỉ đầy đủ một cách tương đối vì trên thực tế mỗi khi thiên tai xảy ra hầu hết các ngân sách các địa phương đều không đảm bảo, phải nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương.

Nguồn ngân sách địa phương cho giảm nhẹ và khắc phục hậu quả thiên tai chủ yếu được dùng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phòng ngừa thiên tai, cũng như cho việc cứu trợ khẩn cấp khi thiên tai xảy ra (lương thực, thực phẩm, ghe, xuống,…). Quy mô các nguồn tài chính từ NSĐP được dùng cho việc trợ giúp người dân để khôi phục lại cuộc sống sau khi thiên tai xảy ra là không lớn. Trong khi đó bản thân ngân sách trung ương dành cho công tác giảm nhẹ và khắc phục hậu quả thiên tai chỉ là một nội dung nhỏ trong chi ngân sách trung ương. Dự phòng NSTW và dự trữ tài chính trung ương cũng dành ngân sách cho rất nhiều nhiệm vụ chi khác nhau.Điều đó cũng đồng nghĩa với việc ngân sách chỉ mới đủ để đối phó với thiên tai ở mức độ vừa phải, mang tính chất thường niên.

- Năm là, chất lượng công tác dự báo rủi ro cũng như việc ước tính các chi phí cần thiết để phòng ngừa, khắc phục rủi ro còn hạn chế, do đó nhu cầu về nguồn tài chính hỗ trợ việc phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai chưa được xác định một cách tin cậy, ảnh hưởng đến việc bố trí nguồn tài chính.

- Sáu là, mặc dù Việt Nam đã thông qua Luật Phòng, Chống thiên tai và Chiến lược quốc gia năm 2007 về Phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020, nhưng những khuôn khổ pháp lý hỗ trợ sáng kiến tài chính cho rủi ro thiên tai (DRFI) ở Việt Nam (bao gồm cả bảo hiểm) vẫn mới phát triển và vai trò của DRFI vẫn chưa được xác định một cách đầy đủ trong khuôn khổ quốc gia. Cả Luật Phòng, Chống thiên tai và Chiến lược quốc gia đều công nhận bảo hiểm là một công cụ hữu ích cho việc phòng tránh thiên tai, nhưng có rất ít hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng cũng như là kinh phí cho khoản này.

 

*1 Thông tư số 47/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/6/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi thủy sản theo Quyết định số 315/QĐ-TTg và Thông tư số 43/2012/TT-BNNPTNT ngày 23/8/2012 sửa đổi bổ sung Thông tư số 47/2011/TT-BNNPTNT.

*2 Trong 3 năm triển khai có 304.017 hộ nông dân/tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia bảo hiểm nông nghiệp; Tổng giá trị được bảo hiểm là 7.748 tỷ đồng; Tổng doanh thu phí bảo hiểm là 394 tỷ đồng; Tổng số tiền bồi thường bảo hiểm nông nghiệp đến thời điểm 30/10/2014 là 707,4 tỷ đồng

*3 Chỉ tính riêng đối với Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long, theo Ban điều phối Chương trình, tính đến năm 2015, Chương trình đã giải quyết chỗ ở cho khoảng 200.000 hộ dân (tương đương 1 triệu người) với tổng vốn đầu tư hơn 8.000 tỷ đồng.

*4 Nguồn: Bộ Tài chính.

*5 Nguồn: Tổng cục dự trữ Nhà nước.

*6 Ví dụ: Nghị định số 94/2014/NĐ-CP về quỹ phòng, chống thiên tai đã được ban hành nhưng chưa có văn bản hướng dẫn nên một số địa phương chưa thành lập được quỹ này để hỗ trợ cho công tác phòng, chống thiên tai